thơ trào phúng hồ xuân hương

HỒ XUÂN HƯƠNG, NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG Trước kia Xuân Hương thường bị giai cặp phong kiến thống trị coi là người đàn bà lăng loàn, đĩ thõa. Họ căm ghét Xuân Hương, bởi vì Xuân Hương dám nói những điều bọn mũ cao áo dài không dám nói đến. Đó mới là một phần, Một phần nữa điều này họ không dám nói ra NGHỆ THUẬT TEAOF PHÚNG TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG . 31 302 3. Tailieuvanhoc@@@ Gửi tin nhắn | Báo tài liệu vi phạm. Thêm vào bộ sưu tập . Tải xuống 3. Xem thêm . Tải xuống 3. Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống nghệ thuật trào phúng trong thơ Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN NGỮ VĂN -- NGUYỄN THỊ DIỄM NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG “XUÂN HƯƠNG THI TẬP” Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ văn Cán bộ hướng dẫn PHAN THỊ MỸ HẰNG Cần Thơ, năm 2012 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU  Lí do chọn đề tài  Lịch sử nghiên cứu  Mục tiêu nghiên cứu  Phạm vi nghiê cứu  Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG  Vài nét về Hồ Xuân Hương và “Xuân Hương thi tập”  Cuộc đời Hồ Xuân Hương  Giới thiệu “Xuân Hương thi tập”  Thời đại  Vài nét về thơ ca trào phúng việt nam Khái niệm trào phúng  Thơ ca trào phúng dân gian  Thơ ca trào phúng thế kỉ XIX  Phân loại đối tượng trào phúng trong “Xuân Hương thi tập”  Đối tượng đạođức giả  Đối tượng sống trái tự nhiên  Đối tượng sống thiếu trách nhiệm CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG “XUÂN HƯƠNG THI TẬP” ngôn ngữ với việc thể hiện nội dung trào phúng Nghệ thuật sử dụng tù ghép Nghệ thuật sử dụng từ láy Nghệ thuật sử dụng từ điệp Nghệ thuật sử dụng yếu tố tục Nghệ thuật sử dụng “tử vận” Một số biện pháp tu từ với việc thể hiện nội dung trào phúng Chơi chữ Ẩn dụ Nhân hoá CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT KHẮC HOẠ HÌNH TƯỢNG TRÀO PHÚNG TRONG “XUÂN HƯƠNG THI TẬP” Cách miêu tả các hình tượng hài hước Thông qua cử chỉ, điệu bộ của các đối tượng trào phúng Thông qua hành động, tính cách của các đối tượng trào phúng Cách miêu tả các hình tượng có tính chất hai mặt gợi sự lien tưởng Thông qua một số hình ảnh trong thế giới tự nhiên Thông qua một số hình ảnh trong cuộc sống sinh hoạt PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG “XUÂN HƯƠNG THI TẬP” A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong suốt chiều dài văn học Việt Nam chúng ta đã có dịp tiếp cận với nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Mỗi tác giả là một đóng góp có giá trị làm nên tiếng nói chung cho nền văn học văn tộc. Khi nhắc đến nền văn học trung đại thì không thể nào không nhắc đến một nhà thơ nữ hết sức tài hoa Hồ Xuân Hương Nhìn lại nền văn học nước nhà chúng ta thấy số lượng các nhà thơ nữ rất ít, đặc biệt là những nhà thơ nữ thật sự có tài, có cống hiến cho nền văn chương của dân tộc. Trong nền văn học trung đại do chịu sự chi phối của những hủ tục, lễ giáo phong kiến khắc nghiệt nên con số đó càng ít hơn. Có thể kể ra đây vài cái tên tiêu biểu Ngọc Hân, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương; Hồ Xuân Hương được coi là hiện tượng nổi đình, nổi đám gây nhiều tranh cãi hơn cả. Nhiều nhà nghiên cứu khi đi vào tìm hiểu về thơ Hồ Xuân Hương thì đều giữ một khoảng cách nhất định. Vì xung quanh nữ sĩ tài hoa này là tập hợp nhiều câu hỏi mà đến nay chúng ta vẫn chưa có nhiều tư liệu để giải đáp được chính xác. Tuy nhiên điều này cũng không gây trở ngại lớn cho giới nghiên cứu cùng độc giả bởi tất cả những gì mà bà để lại với độ tin cậy nhất cũng đủ sức thu húc, lôi cuốn độc giả nên họ tìm cách tìm hiểu, sưu tầm tư liệu về nữ sĩ ngày càng nhiều. Hồ Xuân Hương đã thật sự đem đến ấn tượng đặc biệt đối với người đọc. Hiện nay thì các công trình nghiên cứu, bài viết về hồ Xuân Hương rất nhiều nhưng các tác giả phần nhiều chỉ đi vào tìm hiểu nội dung, tư tưởng cốt lõi của tác phẩm riêng đối với nghệ thuật vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu. Như chúng ta biết thì nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương là đề tài gần như chiếm một vị trí quan trọng trong thơ bà. Do nội dung của tập thơ có quá nhiều vấn đề gây sự chú ý của độc giả nên phần nghệ thuật nhất là nghệ thuật trào phúng trong thơ chưa được sự lưu tâm tìm hiểu cận kẻ. Các tác giả nghiên cứu chỉ lưu tâm đến ngôn ngữ và một số phương tiện tổ chức lời thơ trong “Xuân Hương thi tập” nói như thế không phải phẩn nghệ thuật trào phúng không quan trọng, thực tế không phải vậy, bởi chính nhờ phần nghệ thuật trào phúng đặc sắc thì mới gây được sự thích thú đối với người đọc. Một tác phẩm văn chương tuyệt tác thì cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Đối với độc giả ai đã từng đọc và hiểu ít nhiều về thi sĩ Hồ Xuân Hương cũng như những nhà thơ khác cùng thời với tác giả thì đều có cảm giác chung là thơ của các nhà thơ trung đại khó có thể hiểu và thích ngay được nhưng ngược lại khi đọc thơ của nữ sĩ chúng ta có cảm giác thích thú bởi bà đã đưa đến một hơi thở thơm mát hơn cho văn chương trung đại. Chúng ta biết khá nhiều về thơ Hồ Xuân Hương nhưng mỗi chúng ta không được phép thỏa mãn về những điều mình biết. Sự học là vô bờ bến nên xã hội cần những người biết tìm tòi, học hỏi, đào sâu tri thức để đạt đến thành tựu cao hơn. Là sinh viên ngành Ngữ Văn tôi luôn ước muốn có điều kiện để tìm hiểu nhiều hơn về nhà thơ tài hoa này đồng thời có dịp nâng cao khả nâng nghiên cứu của mình nên tôi đã không ngần ngại chọn “ Đề tài nghệ thuật trào phúng trong Xuân Hương thi tập” cho luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu Các ý kiến Ý kiến của Xuân Diệu trong bài “ Nhà thơ dòng Việt bà chúa thơ Nôm” Từ đầu bài viết của mình thì Xuân Diệu đã khẳng định rằng thơ Xuân Hương “có tính chất dân tộc hơn cả” [29,tr270], Thơ Xuân Hương Việt Nam hơn cả vì đã thống nhất được tới cao độ hai tính dân tộc và đại chúng. Bài viết của Xuân Diệu được chia làm hai phần nội dung và nghệ thuật nhưng không có sự phân biệt rạch ròi mà có sự đan cài vào nhau. Vì nhà thơ nữ lúc nào cũng đầy ắp hương vị của cuộc sống, hình ảnh đời thường nên “ thơ Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa với “mách qué” nữa mà nôm na là đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo tuyệt vời ” [29;tr271]. Riêng về cách dùng chữ thì tác giả khen “ Dùng chữ Việt Nam, phải nhận Xuân Hương là thánh và chữ dùng sắc biết chừng nào ” [29;tr271]. Đối với thể thơ Đường luật thì “Xuân Hương ra cái gương mẫu hoàn toàn nhất về việc dân tộc hóa và đại chúng hóa những điệu thơ vay mượn ở nước ngoài”[29;271] Ở phần cuối thì tác giả chỉ tập trung vào việc so sánh, đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về nội dung trào phúng của ba tác giả Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Xuân Hương. Bài viết của Xuân Diệu thì ngắn gọn, súc tích, tuy ông chỉ điểm qua một số nét nhưng cũng cho ta thấy được cái tài hoa của ông khi nhìn nhận, đánh giá về thơ Hồ Xuân Hương. Tác giả đã nhìn ra được tài năng của nữ sĩ khi dùng chữ Nôm để sáng tác. Ý kiến của Hoàng Hữu Yên trong bài “Thơ Hồ Xuân Hương” Bài viết của Hoàng Hữu Yên cũng được chia làm hai phần. Phần đầu là lược sử về giai đoạn Hồ Xuân Hương sinh sống và một vài nét về Xuân Hương thi tập; phần hai với tựa đề “Nội dung tập thơ Hồ Xuân Hương” nhưng thực chất có sự xen kẻ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Khi đi vào nghiên cứu nghệ thuật thơ Xuân Hương tác giả đã nhận xét “Thơ Hồ Xuân Hương là rực rỡ nhất vì hình thức thơ đẹp hơn, dân tộc hơn và đại chúng hơn cả ” [20;tr455] và ông cung dẫn thêm lời nhận xét của Xuân Diệu “ Thơ Hồ Xuân Hương cứ nôm na bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo không gợn, đọc cứ thoải mái dễ thuộc, những câu đối nhau thì cân chỉnh già dặn đến nổi ai cũng phải sợ mà vẫn như lời nói thường ” [20;tr456] Hoàng Hữu Yên cũng tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương từ thơ Đường luật như các tác giả khác. Ông đã nêu lên nhận định đầu tiên cũng là dùng một phần nghệ thuật thơ “ Thơ Hồ Xuân Hương là những vần thơ Việt Nam nhất trong dòng thơ Nôm luật Đường ” [20;tr453]. Sau đó thì ông chia sẽ với bạn đọc về một số điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ Xuân Hương mà ông đã phát hiện ra “ Về cách cấu tạo thơ, đáng chú ý nhất là biện pháp ngắt nhịp biến hóa rất linh hoạt ít thấy ở thơ luật Đường” [20;456] “ Lời thơ bình dị đến kinh ngạc mà cứ nên thơ. Lời thơ tuôn ra như lời nói thường, không cao đạo, khúc mắc một tý mà niêm luật vẫn phân minh, đối ngẫu rất cân chỉnh, vần điệu uyển chuyển tự nhiên” [20;456] “ Trong thơ ít dùng Điển cố và từ Hán Việ t” [20;456] chủ yếu sử dụng những từ ngữ thông thường nhưng vẫn đảm bảo được giá trị của bài thơ. Về phần ngôn từ trong thơ, ông gọi là tính hình tượng của ngôn ngữ thơ. Trong Xuân Hương thi tập tác giả viết “ Ngôn ngữ giàu âm thanh, nhiều màu sắc, rõ đường nét, hình khối và luôn sống động” [20;457] Ông đã cho rằng sở dĩ Hồ Xuân Hương đã tạo được một phong cách khá đặc biệt là bởi “ Tác giả đã vận dụng mọi giác quan để quan sát, mà quan sát rất tinh, rất thính” [20;458] và còn nhận xét thêm “ Sử dụng mọi giác quan để sáng tác là một bước tiến đáng kể trong sáng tạo nghệ thuật, không phải bất cứ nghệ sĩ nào cũng làm được ” [20;459]. Ở điểm này tác giả đã có nhận xét rất đúng và đó cũng là đặc điểm nổi bật trong thơ Hồ xuân Hương, chính nữ sĩ họ Hồ đã gớp phần rất đáng kể làm cho ngôn ngữ dân tộc, tức là Tiếng Việt văn học phong phú, trong sáng và chính xác hơn. Ngoài ra tác giả cũng có đề cập đến tài gieo vần đó là rất nhiều bài được cấu tạo bằng những “ tử vận” rất khó họa lại như vần om, eo, ênh... Nhìn chung lại thì tác giả đã nêu lên được đặc sắc trong phong cách nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương với rất nhiều dẫn chứng diễn giải. Bài viết của Hoàng Hữu Yên tuy chưa được đầy đủ nhưng cũng có thể coi đó như là một tài liệu nghiên cứu có giá trị sự dụng lâu dài. ý kiến của Đổ Đức Hiểu trong bài “ Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương” Trong bài viết của mình thì ông chủ yếu bàn về phương diện nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương. Như ta đã biết thì ngôn ngữ được xem là chất liệu và cũng là phương tiện để tổ chức hay sáng tạo nên các sáng tác văn chương. Đỗ Đức Hiểu đã có định nghĩa khá đặc sắc về ngôn từ trong sáng tác văn học “ Ngôn từ nghệ thuật là một cơ thể sống phức hợp, vận dụng nhiều âm thanh, nhiều màu sắc. Mỗi tiêng là một con kỳ nhông, đứng chỗ này thì màu xanh, đứng chổ khác thì màu nâu hoặc vàng ” [20;303] , không giống với các nhà nghiên cứu khác tác giả chọn riêng cho mình hướng tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ cấu trúc biểu đạt. Tuy hướng tiếp cận khác nhưng bài viết của tác giả có điểm chung với một số bài viết khác. Ông cũng xuất phát từ thể thơ Đường luật mà Xuân Hương sử dụng để tìm ra nét độc đáo, sáng tạo trong phong cách thơ của nữ sĩ. Tác giả đã có những nhận xét về thi sĩ họ Hồ “Xuân Hương sáng tạo phong cách thơ Đường luật mới, một thế giới thường thắm tươi, một thiên nhiên tràn đầy sức sống một triết lý tự nhiên của cuộc đời trần thế, của trực giác, cảm giác, bản năng, của say mê. Một cái đẹp góc cạnh và vui tươi của sự vận động hối hả, căng thẳng với nhịp điệu vanxow chóng mặt” [20;305] Từ cấu trúc biểu đạt Đỗ Đúc Hiểu triển khai đến vấn đề động từ hoạt động. Tác giả nhận xét “ Những động từ hoạt động trong thơ Xuân Hương giữ một vị trí đầu não, vị trí chúa tể, nó là cột sống, hòn đá tảng của nhịp thơ, nó có khả năng gây biến động, gây tai biến, bất chợt và hùng hổ ” [20;310] Ngoài ra, ông còn đề cập đến một số điều như nói lái, hình ảnh, tượng trưng, ẩn dụ … là những đặc điểm góp phần làm cho thơ Nôm Hồ Xuân Hương đặc biệt hơn các nhà thơ khác. Đỗ Đức Hiểu còn nhận xét thêm về sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân là hợp lý việc tách rời các yếu tố màu sắc, âm thanh, hình thù, nhịp thơ, từ ngữ, ngữ pháp … trong thơ, tất cả các yếu tố ấy vận hành liên kết với nhau thành hệ thống, thành một khối ” [20;321]. Tác giả đã nhận ra một điều rất quan trong đó là tính thống nhất của các yếu tố trong một hệ thống, cấu trúc của bài thơ để làm nên giá trị cho cả bài. Bên cạnh đó trên cơ sở chỉ ra các môtip “ Hang động, văng vẳng, trắng son, trăng khuya ” [20;tr312] người viết đã có sự phân tích về thanh điệu, về vần, nhịp, câu ….Tuy nhiên tác giả chỉ chủ yếu viết về phần nội dung cho nên những lời bàn luận về nghệ thuật chưa thật đặc sắc. Nhìn chung thì người viết có cố gắng trong việc làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra. Ở phương diện từ loại, mỗi loại từ tác giả đã có sự dẫn chứng, chứng minh, phân tích cụ thể. Tuy nhiên thì trên tổng thể khi xét đến nghệ thuật thì người viết chỉ mới giải quyết một số điểm thuộc về từ còn lại rất nhiều vấn đề khác thì chưa giải quyết rốt ráo được. Đỗ Đức Hiểu cũng chưa cung cấp được cho độc giả cái nhìn chính xác về lớp từ Thuần Việt có nguồn gốc từ cuộc sống, từ văn học dân gian rất phổ biến trong thơ Hồ Xuân Hương. Ý kiến của Lê Trí Viễn trong “ Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” Giống như giáo sư Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn cũng tiếp cận phong cách nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương từ phương diện thể thơ với bút pháp, biểu hiện, thuyết phục và cuốn hút của Xuân Hương. Tác giả không so sánh riêng Hồ Xuân Hương với Bà Huyện Thanh Quan như Nguyễn Lộc mà có sự mở rộng phạm vi so sánh. Ông đã so sánh giữa thơ Xuân Hương với thơ Nôm luật Đường. Cùng là thể thơ Nôm tuy nhiên “ Thơ Nôm đời Hồng Đức khoác áo quan phương. Đến Xuân Hương, Đường luật mới có đầy đủ tính dân chủ, trần tục và rất độc đáo, nó đã được Xuân Hương hóa ” [19;tr34]. Trong phần phương tiện để tạo nên lời thơ người viết có chú ý đề cập đến vấn đề từ vựng và nghĩa của từ. Tác giả nhận xét “ Từ dùng rất lạ, có khi hiểm hóc cần thì chẳn ngại văng tục, nói lái, ỡm ỡm ờ ờ ” [19;tr35] hay từ bắt chước âm thanh, vận dụng thành ngữ, ca dao. Tác giả cho rằng “ ý nghĩa của từ vừa bao gồm lớp nghĩa cấu trúc hóa tức nghĩa từ vựng và nghĩa cú pháp và đây là nét mạnh sắc, không tiến mà cũng khoáng hậu ” [19;37]. Dù rằng những vấn đề được tác giả đem ra bàn luận không nhiều nhưng bài viết này cũng đạt được những giá trị nhất định, Lê Trí Viễn đã nhận xét một cách khái quát mặt nghĩa của từ trong thơ Hồ Xuân Hương, đây là điểm mạnh làm nên giá trị của mảng thơ trào phúng trong Xuân Hương thi tập. Tuy vậy phần phong cách thơ Hồ Xuân Hương chưa được nổi bật. Riêng về nghệ thuật trào phúng thì cũng được đề cập đến ở một khía cạnh nhất định. Ý kiến của Nguyễn Lộc * Ý kiến của Nguyễn Lộc trong “ Thơ Hồ Xuân Hương” Bài viết của tác giả Nguyễn Lộc có bố cục khá rõ ràng, được chia làm bốn phần tiểu sử tác giả, nội dung của Xuân Hương thi tập, vấn đề tục và dâm, phần kết là nghệ thuật. Trong phần viết về nghệ thuật thơ Xuân Hương tác giả bài viết đã có nhận xét, đánh giá khá sắc sảo. Tác giả đi từ phương diện thể thơ để tiếp cận thơ nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương. Bằng thao tác so sánh, đối chiếu tác giả đã khái quát một vấn đề hết sức quan trọng đó là sự kế thừa và phát huy trong thơ Hồ Xuân Hương. Thể thơ Đường luật mà nhà thơ sử dụng luôn được xem là thể thơ bác học với hệ thống hình ảnh ước lệ, ngôn từ mang tính chất cổ kính. Trường hợp mà tác giả đem ra để so sánh, đối chiếu với phong cách thơ Hồ Xuân Hương không ai khác ngoài Bà Huyện Thanh Quan. Tuy hai nữ sĩ được xem là cùng thời nhưng phong cách thơ của hai người rất khác biệt. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan luôn đúng với chuẩn mực thơ Nôm luật Đường trong khi “ Tính chất bác học ấy xa lạ đối với Hồ Xuân Hương, nhà thơ không chấp nhận mà phải cải tạo, làm cho nó đại chúng hơn, bình dân hơn ” [15;tr35-36]. Đi sâu thực tế sáng tác nhà thơ, tác giả bài viết có nhận xét “ Hồ Xuân Hương không phải dân tộc hóa thể thơ Đương mà bình dân hóa nó, vì vậy thơ Đường luật của bà không có vẻ gì đạo mạo, già cỗi, mà nó trẻ trung linh hoạt ” [15;tr36] Để làm thay đổi những điều vốn có đã đi vào quy cũ, nề nếp Xuân Hương đã rất khéo léo, tài tình lựa chọn cho mình nguồn nguyên liệu cùng những phương tiện thể hiện thích hợp. Nguyễn Lộc đã dụng công tìm tòi, nghiên cứu để rồi phát hiện ra rằng “ Chỗ dựa của nhà thơ để thực hiện những sáng tạo của mình là văn học dân gian, là ca dao tục ngữ, là truyện tiếu lâm, là câu đố tục giảng thanh và đố thanh giản tục, …”[15;tr36]. Mặt khác thể thơ Đường chủ yếu được nhằm muc đích gởi gắm, giờ đây được dùng vào cả mục đích trào phúng. Nhìn chung, tác giả Nguyễn Lộc đã làm nổi rõ được một số vấn đề cốt yếu gớp phần làm nên lời thơ trong Xuân Hương thi tập, nhưng nhìn chung tác giả chưa thực sự đi sâu cặn kẽ vào từng vấn đề. Các phương tiện làm nên lời thơ nghệ thuật trong các sáng tác của Hồ Xuân Hương như vấn đề từ loại tác giả chỉ nêu lên một cách chung nhất “ Hồ Xuân Hương dùng ngôn ngữ hằng ngày để làm thơ ” [15;tr36] trong khi đó vấn đề từ vựng ở tập thơ Nôm này là cả một hệ thống phong phú, linh hoạt gồm từ tượng thanh, tượng hình, từ chỉ màu sắc, từ thuần Việt, … Tác giả cũng đã bỏ qua phần biện pháp tu từ nghệ thuật và kết cấu của thể thơ Đường luật được thể hiện qua vần, luật, … Riêng về phần phương thức tổ chức, tác giả bài viết có đề cập đến phần phong cách thơ “ Hồ Xuân Hương thuộc dòng văn học thành văn, nhưng phong cách của bà lại bình dân, và phong cách bình dân ấy ghi đậm nét dấu ấn cá tính của bà ” [15;tr37] thế nhưng người viết chỉ dừng lại đó mà chưa có sự phân tích, chứng minh cụ thể. Tóm lại tác giả chỉ nghiêng về nêu, nhận xét chưa có sự gắn kết với chứng minh, diễn giải để làm cho phần nhận xét thuyết phục hơn. Các vấn đề về nghệ thuật được đề cập, bàn luận đến chưa nhiều, chưa bao quát tuy nhiên chúng ta phải nhìn nhận rằng phần nội dung “ Thơ Hồ Xuân Hương ” tác giả viết rất sâu, có sức thuyết phục cao.  Ý kiến của Nguyễn Lộc trong “ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX” Có thể nói, Giáo sư Nguyễn Lộc là người có nhiều bài viết có giá trị trong việc tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương. Một lần nữa trong “ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX ” tác giả đã có những trang viết về nữ sĩ và trong đó có dành một phần để bàn về “ Phong cách thơ Hồ Xuân Hương ”. Xét riêng về phần nghệ thuật, tuy “ Phong cách thơ Hồ Xuân Hương ” chỉ là một phần trong một công trình lớn nhưng nó lại tương đối hoàn chỉnh so với các bài viết khác. Mặc dù công trình nghiên cứu này xuất hiện tương đói sớm nhưng tác giả đã đưa ra được những luận điểm khá sắc sảo. Nguyễn Lộc có nhận xét “ Xuân Hương thuộc dòng phong cách bình dân, nhưng nhà thơ không tan biến trong phong cách ấy, mà sắc thái cá nhân hết sức đậm nét ” [14;tr409]. Để triển khai lời nhận xét trên tác giả đã đi vào đặc trưng cốt yếu nhất trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương đó là ngôn ngữ. Thứ nhất vì ngôn ngữ là chất liệu cơ bản nhất của văn chương, và cũng bởi vì ngôn ngữ thơ Xuân Hương có phần đặc biệt hơn cả nên đã gây được sự thích thú cho Nguyễn Lộc cũng như đa số các bạn đọc khác. Đi vào tìm hiểu Xuân Hương thi tập, Nguyễn Lộc viết “ Về ngôn ngữ, có thể nói trong văn học cổ không ai giản dị, dễ hiểu và mộc mạc như Xuân Hương. Ngôn ngữ của Xuân Hương không khác gì ngôn ngữ của ca dao, tục ngữ. Thỉnh thoảng trong thơ bà có đôi từ Hán Việt, thì hầu hết đã được Việt hóa, đã đi vào kho từ vựng phổ biến của Tiếng Việt”. [14;tr410]. Tiếp sau đó tác giả đi vào chứng minh, giải thích cho điều mình nhận định, thông qua đó tác giả khẳng định lại một lần nữa “Xuân Hương có tài khai thác vốn ngôn ngữ súc tích, cô động của ca dao, tục ngữ” [14;tr410], đồng thời tác giả đã đề cập đến khả năng tổ chức lời thơ của Xuân Hương “Trong kiến trúc chung của câu thơ Xuân Hương, những yếu tố ca dao, tục ngữ được đặt đúng chỗ nên rất tự nhiên, nó nhuyễn vào những từ, những câu khác của Xuân Hương làm thành một thể hữu cơ, thống nhất.”[14;tr410] Tác giả cho rằng, ngôn ngữ của Xuân Hương “không câu nệ ở hình thức”, ngôn ngữ thơ của Xuân Hương là “ngôn ngữ của đời sống”, là “một loạt từ ngữ đầu đường xó chợ”, miễn là “các từ ấy nói đúng được cái chất thực của đời sống, của tình cảm”. Người viết nhận xét tiếp “kho từ ngữ của Xuân Hương thường chứa đựng nhiều từ ngữ động, nhiều thức lấp láy có tác dụng khêu gợi cảm giác mạnh, nhiều từ nói láy nghịch ngợm” [14;tr413]. Tác giả đã đưa ra được những dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho lời nhận định trên. Trong bài viết này tác giả còn dừng lại để xem xét vần trong thơ Xuân Hương. Cái tài sáng tạo vần của nữ sĩ quả ít có người nào cùng thời sánh kịp. “Xuân Hương con thích dùng những vần oái oăm khó gieo, thi pháp cổ gọi là “tử vận”, những vần chết, nhưng dùng thành công thì bài thơ lại có dáng dấp rất độc đáo” [14;tr414]. Nhìn chung tác giả đã có sự tìm tòi nghiên cứu rất kỹ lưỡng để nêu lên những điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ của Hồ Xuân Hương tuy phần phương thức thể hiện chỉ mới đề cập được nguyên tắc điểm nhìn cá thể hóa còn gọi là phong cách của tác giả. Riêng về phần phương tiện sáng tác Nguyễn Lộc đã làm sáng tỏ nhiều điều quanh vấn đề ngôn từ thơ. Mặc dù còn nhiều phương tiện, phương thức tổ chức lời thơ mà tác giả chưa đề cập đến nhưng người đọc cũng như những nhà nghiên cứu khoa học cần ghi nhận đóng góp của Nguyễn Lộc trong bài viết này. Nhận xét Trên đây chỉ là một vài bài viết tiêu biểu cho vấn đề nghệ thuật trong Xuân Hương thi tập . Tuy mỗi tác giả có cách viết, cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau nhưng tựu chung vẫn có một số ý kiến tương đồng sau _ Hồ Xuân Hương thuộc dòng văn học thành văn nhưng rất bình dân đồng thời cũng rất dân tộc và đại chúng. _ Hồ Xuân Hương dùng thể thơ Đường luật để sáng tác nhưng đã có sự cách tân và sáng tạo. Nhà thơ đã dân tộc hóa và bình dân hóa thể thơ Đường. _ Ngôn ngữ thơ luôn mộc mạc, giản dị, dễ hiểu nhưng không kém phần cô đọng, hàm súc. _ Xuân Hương đã vận dụng vốn văn học dân gian như ca dao, thành ngữ, tục ngữ trong quá trình sáng tác nhưng không hề có sự rập khuôn mà luôn tạo được dấu ấn riêng. _ Tài năng của Xuân Hương còn được thể hiện qua việc gieo vần và ngắt nhịp. Nhìn chung các tác giả đã đưa ra được những nhận xét, ý kiến có giá trị. Các nhà nghiên cứu đã nhận định đúng được tài năng, bản lĩnh cũng như vai trò của Hồ Xuân Hương trong nền văn học trung đại. Những nhận định, ý kiến đó có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn về nữ sĩ. Bên cạnh một số điểm đã bàn luận và được thống nhất các nhà nghiên cứu chưa thực sự quan tâm nhiều đến nghệ thuật trào phúng rất tiêu biểu trong Xuân Hương thi tập và bà đã sử dụng thành công như biên pháp ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ trong thơ. Những tác giả tham gia nghiên cứu, phê bình chưa thực sự quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật của một bài thơ. Việc rút ra ý kiến nhận xét từ các bài viết của giới nghiên cứu sẽ giúp cho người thực hiện đề tài này dễ dàng hơn trong quá trình tìm hiểu về “Nghệ thuật trào phúng trong Xuân Hương thi tập”. 3. Mục đích nghiên cứu Hiện nay các bài viết về Xuân Hương thi tập tương đối nhiều thế nhưng vấn đề nghệ thuật trào phúng trong tập thơ vẫn chưa có được công trình nghiên cứu hoàn chỉnh. Chúng ta cũng cần xác định rằng đây là đề tài mang tính chất kế thừa và phát huy, có như vậy ta mới thấy bên cạnh những gì mà người đi trước đã làm được và chưa làm được từ đó chúng ta sẽ cần tập trung nhiều vào khía cạnh nào. Đối với đề tài này người viết thấy đầu tiên ta nên trình bày giới thuyết chung của nghệ thuật trào phúng ở mức độ cơ bản, khái quát nhất. Trên cơ sở lý thuyết có được chúng ta sẽ khai triển, nghiên cứu trực tiếp trên Xuân Hương thi tập. Mục đích của chúng ta là đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật, hiệu quả thẩm mĩ nghệ thuật để có thể hiểu được cặn kẽ hơn nội dung, tình cảm cũng như tài năng của nữ sĩ được gởi qua những câu thơ. Vậy yêu cầu của đề tài là phải làm sáng tỏ được những yếu tố, đặc điểm làm nên nghệ thuật trào phúng. Chúng ta có thể bàn đến một số điểm như biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ. Bên cạnh đó ta cũng dành sự chú tâm đến vần, nhịp trong tập thơ Nôm luật Đường này. Cuối cùng phần kết sẽ khái quát lại tất cả các vấn đề đã được trình bày và đề xuất một số vấn đề xung quanh tập thơ. 4. Phạm vi nghiên cứu Bàn về thơ Hồ Xuân Hương có rất nhiều vấn đề đã và đang được sự quan tâm của rất nhiều người. Nhà thơ được nhắc đến bởi hai tập thơ tập thơ chữ Hán “Lưu Hương ký” và tập “thơ Hồ Xuân Hương” bằng chữ Nôm. Do đề tài là “Nghệ thuật trào phúng trong Xuân Hương thi tập” nên vấn đề đã được khu biệt lại, và vì vậy về văn bản ta sẽ chọn tập “Thơ Hồ Xuân Hương” để làm cơ sở nghiên cứu. Tập thơ gồm những bài thơ Nôm nổi tiếng của nữ sĩ Xuân Hương do tác giả Nguyễn Lộc sưu tầm, chọn lọc, biên sọan lại và thường được giới nghiên cứu gọi là “Xuân Hương thi tập” Bên cạnh đó ta vẫn có thể mở rộng so sánh phần thơ nói chung và phần nghệ thuật trào phúng giữa thơ Hồ Xuân Hương với các nhà thơ khác cùng thời như Nguyễn Khuyến. Tú Xương, Nguyễn Bỉnh Khiêm ... để bao quat được giá trị cũng như đặc sắc trong thơ Hồ Xuân Hương. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thưc hiện tốt đề tài này người viết phải vận dụng nhiều phương pháp khác nhau. Ngoài công tác sưu tầm, tổng hợp các tài liệu bài viết để làm tư liệu tham khảo người viết cần phải sử dụng phương pháp thống kê trên các bài thơ trong Xuân Hương thi tập để phân loại thơ theo nội dung nhằm tạo được cái nhìn tổng quan hơn. Đồng thời ở mỗi phần nhất là phần đi vào tìm hiểu trên Xuân Hương thi tập người viết cần vận dụng linh hoạt các phương pháp bình, chứng minh, phân tích, tổng hợp vấn đề làm cho bài viết thêm phần thuyết phục. Ngoài ra người viết còn sử dụng biện pháp so sánh để làm cho bài viết đa dạng, phong phú hơn. B. Nội Dung Chương 1 Một số vấn đề chung Vài nét về Hồ Xuân Hương và “Xuân Hương thi tập” Cuộc đời Nữ thi sĩ Việt Nam cho đến nay có nhiều vấn đề về cuộc đời bà chưa được giải quyết. Bà sinh năm nào, mất năm nào, sáng tác chủ yếu vào giai đoạn nào đều chưa biết chính xác. Trước kia các nhà nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hương sống và sáng tác vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ yếu là dưới thời Tây Sơn. Nhưng một số tài liệu phát hiện gần đây thì lại cho chúng ta thấy bà sống chủ yếu dưới thời nhà Nguyễn, khoảng nửa đầu thế kỷ XIX. Trước kia đọc giả chỉ biết bà là tác giả của những bài thơ Nôm hết sức độc đáo và sắc sảo, nhưng gần đây có tài liệu cho biết bà còn sáng tác cả thơ chữ Hán. Về cuộc đời của Hồ Xuân Hương, những điều kiện hiện nay chúng ta biết được cũng không lấy gì làm chắc chắn bởi vì không có tài liệu gốc nào để lại. Người ta vẫn lưu truyền bà là người quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông thân sinh là cụ Hồ Phi Diễn, một ông đồ nghèo bỏ quê ra dạy học ở vùng Hải Dương, Kinh Bắc ngày trước về sau lấy lẽ cô gái họ Hà và sinh ra Hồ Xuân Hương. Gia đình có một thời sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội bây giờ. Khi trưởng thành, bà có làm ngôi nhà ở gần Hồ Tây lấy tên là Cổ Nguyệt Đường. Bà thông minh nhưng không được học nhiều, có nhiều bạn trai nhưng con đường tình duyên lại hết sức éo le ngang trái. Lấy chồng hai lần và cả hai lần đều làm lẽ. Căn cứ vào những bài thơ bà viết về các di tích thắng cảnh của đất nước thì biết bà đã từng đi qua nhiều tỉnh đồng bằng và miền núi. Giới Thiệu về “Xuân Hương thi tập” Xuân Hương thi tập là tập thơ khá nổi tiếng của Hồ Xuân Hương, dù rằng đây là tập thơ Nôm do giáo sư Nguyễn Lộc sưu tầm, tập hợp và biên soạn lại với tính chính xác, nhất quán không phải là tuyệt đối nhưng so với các bản khác thì có thể nói đây là tuyển tập tương đối đầy đủ, khách quan và khoa học nhất. Xuân Hương thi tập nói chung là một tập thơ Nôm luật Đường. Bà Huyện Thanh Quan cũng chỉ làm thơ luật Đường. Về sau Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương … đã làm rất nhiều thơ Nôm luật Đường. Dòng thơ luật này đã tạo thành một thể loại lớn mạnh. Tuy nhiên thì so trước nhìn sau, mọi người đều thừa nhận rằng thơ Hồ Xuân Hương là rực rỡ nhất vì hình thức thơ đẹp hơn, dân tộc hơn và đại chúng hơn cả. Xuân Diệu đã nêu nhận xét rất đúng và rất hay “Xuân Hương chỉ chuyên dùng thể thơ thất ngôn luật Đường thế mà không phút nào ta nghĩ rằng đó là một điệu thơ nhập nội, thơ Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo không gợn, đọc cứ thoải mái dễ thuộc, những câu đối nhau thì cân chỉnh già giặn đến ai cũng phải sợ mà vẫn như lời nói thường” Tập thơ gồm 40 bài, số lượng bài tuy không nhiều nhưng nội dung của tập thơ khá phong phú. Mỗi vần thơ có thể nói là một phần tâm hồn, con người của tác giả. Nội dung thơ Xuân Hương tuy không phải là tiếng nói đại diện của cả một giai đoạn nhưng cũng đã chứa đựng được những giá trị tư tưởng sâu sắc. Bước đầu đó chỉ là tiếng nói phản kháng cá nhân, là nỗi lòng chua xót, đau đớn của nữ sĩ trước cuộc đời, trước số phận Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con Tự tình II Thế nhưng đằng sau những lời trách móc. Mỉa mai lại ẩn chứa một tâm hồn nhạy cảm, luôn khát khao có được cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, trọn vẹn. Nhà thơ còn rộng mở lòng mình để cảm thông, chia sẻ nổi đau với những người phụ nữ có hoàn cảnh giống mình, những người phụ nữ có cuộc sông lứa đôi dang dở vì một lẽ gì đó Cả nể cho nên hóa dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Không chồng mà chửa Bên cạnh niềm tâm sự u uẩn, đau đớn của người phụ nữ đa cảm, trong tập thơ còn có những vần thơ đầy màu sắc, thanh âm, đường nét sinh động của bức tranh cuộc sống. Những bức tranh tái hiện lại rõ nét con người và cảnh vật, đời sống sinh hoạt lao động của miền quê Việt Nam. Nếu con người của tâm sự mang vẻ mờ nhạt, u hoài thì con người của cuộc sống lại xinh đẹp, năng động, đầy sức sống của tuổi trẻ Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phất phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song Đánh đu Riêng với phong cảnh, vẻ đẹp của quê hương đất nước chắc là chúng ta sẽ khó lòng tìm thấy ở các nhà thơ khác nét độc đáo như trong thơ Nôm của nữ sĩ. Họa tiết, màu sắc, đường nét được tác giả lựa chọn miêu tả mang dáng vẻ riêng, bộc lộ sự tinh nghịch, hay chọc ghẹo có pha chút táo bạo của Xuân Hương. Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp Lách khe nước rỉ mó lam nham Hang Thánh Hóa chùa Thầy Hay như Ở trong hang núi còn hơi hẹp Ra khỏi đầu non đã rộng thùng Kẽm Trống Cảnh trong tập thơ này vừa quen lại vừa lạ, tạo nên sự thích thú tò mò cho độc giả. Hồ Xuân Hương đã thổi một sinh khí mới, sức sống mới làm cho mọi vật dường như được tái tạo lại một lần nữa. Bên cạnh vẻ đẹp của cuộc sống nhà thơ của chúng ta còn thấy được mặt trái của cuộc đời. Nữ sĩ đã nhận ra được sự bất công của xã hội dành cho người phụ nữ. Xã hội phong kiến không thiếu sự xấu xa của bọn mày râu; sự trơ trẽn của bọn hám danh, hám lợi. Xuân Hương ghi nhận và gởi tất cả vào những trang thơ đả kích, châm biếm. Tác giả lên án, phê phán một cách quyết liệt kèm theo đó là thái độ mỉa mai, chế giếu sâu cay. Đôi lúc đó là sự chế giễu đầy ý vị nhưng cũng có lúc lại là những câu nói thẳng thừng Chẳng phải Ngô chẳng phải ta Đầu thì trọc lóc, áo không tà Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vải núp sau lưng sáu bảy bà Sư hổ mang Có khi bằng lối nói ỡm ỡm ờ ờ, nửa khép nửa mở Xuân Hương đã lôi đến cả ông chúa ngự trên ngai vàng chót vót xuống không thương tiếc để nói lên một điều đơn giản, gần như là chân lí Chúa dấu vua yêu một cái này Vịnh cái quạt II Nhìn chung tác giả đã hướng nhãn quan của mình để bao quát toàn thể cuộc sống. Và có thể do chịu ảnh hưởng nhiều bởi niềm khát vọng sống, quyền được hưởng hạnh phúc chính dáng cùng ao ước vượt ra khỏi khuôn khổ bao đời bó buộc người phụ nữ nên bài thơ nào người đọc cũng thấy phảng phất ý tình sâu xa của tác giả dù rằng có thể đó là bài thơ mang tâm sự buồn thỉu hay là bài thơ mang chất trào phúng. Thời đại Hồ Xuân Hương là thiên tài đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Nàng xuất thân ở tầng lớp bình dân. Điều này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tâm hồn của Xuân Hương bất rễ khá sâu ở đời sống văn nghệ bình dân. Bà không lạ gì với những câu hát, ca dao, tục ngữ, những truyện tiếu lâm, với những câu đố “thanh mà tục, tục mà thanh”. Xuân Hương chịu ảnh hưởng của cuộc sống bình dân nên khi làm thơ thì những cảnh vật, phong tục … của người bình dân hiện lên rõ nét trong thơ bà. Lối thơ tả sự vật diễn đạt tâm tình cũng như lối biểu hiện và phô diễn của nàng đều mang nặng dấu ấn sâu sắc của thể cách bình dân đó. Hồ Xuân Hương sống vào thời Lê Mạc, thời mà các nhà nho thường gọi là “phong hóa suy đồi, cương thường đảo ngược” thời dâm ác của chúa Trịnh Sâm và bè lũ, thời anh giết em, con giết cha, vợ giết chồng … thời đắc thắng của Nguyễn Huệ, của bình dân Việt Nam. Những thời loạn như thế, con người sống không có đảm bảo. Luật pháp, tôn giáo, lễ nghĩa … không đủ sức để che chở con người chống lại những tai họa bất ngờ. Con người chỉ còn biết nghĩ đến mình, nghĩ đến giờ phút hiện tại, nghĩ đến tối thiểu an ninh cho bản thân mình. Lòng khát sống, thèm hưởng thụ nảy nở. Trong các thứ hạnh phúc, chỉ có hạnh phúc vật chất là cái mà con người còn có thể hưởng được ít nhiều. Mặt khác vì không bị luật lệ, luân lý phong kiến ràng buộc nữa, cá nhân con người tự do đi tìm hạnh phúc theo sở thích, mặc dầu tự do ấy vẫn lên những lo sợ, hối hả, ê chề. Tuổi thanh niên của Hồ Xuân Hương phải sống hoàn toàn trong xã hội suy đọa ấy. Lòng khát sống, thèm hạnh phúc ở người đàn bà phiêu lưu đó, kết tinh lại thành một ham muốn hạnh phúc lứa đôi sôi nổi. Đời Hồ Xuân Hương chỉ là một sự tìm chồng. Lẽ dĩ nhiên, trong sự kết tinh ấy, tính chất đặc biệt của cơ thể nàng, của di truyền cũng có tham dự một phần khá lớn. Trong một thời đại mà phong kiến suy đồi như thế thì người đàn bà sống một cuộc đời như thế làm sao tránh được ảnh hưởng của hoàn cảnh về phương diện phát triển tình cảm. Cái hình ảnh một thiếu nữ dâm đảng, xuân tình sớm động chạy theo mộng ước lứa đôi tràn trụa những nét nhục dục, hưởng khoái lạc xác thịt đến đã đời, rồi chấn chường, rên xiết, ai oán vì bất mãn – tôi muốn nói đến cô Kiều của Nguyễn Du – hình ảnh đó cũng được cấu tạo trong thực tế của thời Xuân Hương. Nó đã phần nào phản ánh một cái có thực trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Tâm hồn phóng đãng, tính nết lăng tằng, đời sống lung tung của Xuân Hương đã ngẹt thở trong trạng thái xã hội phong kiến khôi phục ấy. Trong thơ bà thường có những bài buồn bã ủ ê, thương thân, trách đời, tiếc xuân, nhớ mộng Oán hận trông ra khắp mọi chòm, đó là dấu vết của thời kỳ này. Nhưng Hồ Xuân Hương không phải là một tâm hồn đành chịu sự đè nén của xã hội. Nàng đã vùng dậy chống lại. Những bài thơ chứa những ý tưởng làm rợn tóc gáy các nhà Nho “thị thập tứ hiếu” không có nhưng mà có mới ngoan, là sự phát hiện của sức sống chống đối cực đoan ấy. Thơ Hồ Xuân Hương là một chuỗi tiếng ấm ức, oán hận, nguyền rủa của một con người giàu sức sống bị kìm hãm, yếu nhưng không chịu thua, ngã vẫn không chịu đầu hàng kỷ luật phong kiến. Thơ Xuân Hương là sự đòi quyền sống của con người trong một chế độ áp bức con người, giày xéo con người. Hồ Xuân Hương là hiện thân của sự đòi quyền sống- nhất là quyền hưởng tình yêu và nhục dục. Những con người sung sức ấy là kẻ thù của lễ giáo phong kiến. Hiện tượng Hồ Xuân Hương về phương diện tâm lý là cái mầm hủy thể rất sâu sắc cái ý thức chống phong kiến ở địa hạt tình cảm và sinh lý của bình dân Việt Nam, của những tầng lớp nghèo khổ bị áp bức trong xã hội xưa. Vài nét về thơ ca trào phúng Việt Nam Khái niệm trào phúng “Thơ trào phúng là loại thơ dùng ngôn từ ví von, bóng gió để châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu trái với lương tri, đạo đức xã hội.” Trong kho tàng thơ ca Việt Nam, dòng thơ trào phúng rất phong phú, đa dạng và được nhiều người yêu thích. Thơ trào phúng được hiểu theo nghĩa tương đối rộng nên có thể chia thành nhiều loại, trong đó có 3 loại chính. -Loại khôi hài, cười cợt Như bài “ Vịnh Hoàng Cao Khải” của Phan Điện. Hoàng Cao Khải là khâm sai đại thần, được triều đình phong tước Quận công, Phan Điện là nhà thơ trào phúng nổi tiếng ngông nghênh. Cả hai đều cùng quê ở Đức Thọ, bài thơ có những câu như sau Quan như cụ Quận cũng là to To lắm lại càng lắm nổi lo Cụ sướng sao bằng thằng bố Điện Rượu say ôm vợ ngáy kho kho -Loại châm biếm, chế giễu Loại này thường ví von bóng gió để mỉa mai, châm biếm. Bài “Thăm bạn”của Võ Liêm Sơn là một ví dụ Lâu ngày đi thăm bạn Tới ngõ chó xông ra Toàn những con to béo Tiếng sủa như tiếng loa Thấy chó biết gia chủ Bây giờ đã khác xa Thôi, thế là đã rõ Chẳng cần phải vào nhà -Loại phê phán, đả kích Đặc điểm của loại này ít vòng vo, thường dùng biện pháp tả thực để phê phán, đả kích một cách mạnh mẽ, quyết liệt. Bài thơ “cu li” là một ví dụ. Năm Đồng Khánh thứ hai 1887, tại trường thi Hương ở Huế, có một thí sinh làm bài cu li, theo lối từ dán ở cổng trường thi. Bài thơ đả kích từ vua trở xuống và phê phán chế độ giáo dục, thi cữ lỗi thời của triều đình Huế Cu li quan hề, cu li thần Cu li quan hề, cu li dân Cu li tú tài hề, cu li cử nhân Cu li trường thi hề, cu li văn Cu li hề cu li, phi lu hề phi lu Bài này đả kích từ vua trở xuống đều là cu li. Là phường nô lệ, là quân ăn cắp. Ngoài 3 loại kể trên còn có loại thơ “vui là chính”, không châm biếm, chế giễu ai. Nếu có châm biếm thì cũng tự châm biếm mình. Ta thường gặp loại thơ này trong các bài tự trào, tự cười mình là chính. Nhưng loại này cũng được xếp vào thơ trào phúng .Ví dụ có một anh chàng đi công tác ở Plâycu gửi thư về cho vợ, trong đó có hai câu thơ Anh đi công tác Pờ lây Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra Tuy chẳng châm biếm ai nhưng suy cho cùng vẫn có sự châm biếm chế giễu anh chàng dốt thơ nên mới có câu thơ trai khoáy như vậy. Việc phân chia thơ trào phúng làm nhiều loại cũng chỉ là cách chia tương đối không thể cố định, rạch ròi. Bởi vì trong khôi hài, cười cợt có châm biếm, chế giễu; trong châm biếm, chế giễu có phê phán, đả kích; trong phê phán, đả kích có khôi hài, cười cợt Đặc trưng của thơ trào phúng là yếu tố gây cười, yếu tố hài hước. Nếu không có hai yếu tố này thì không thể gọi là thơ trào phúng. Tuy nhiên, cười cũng có nhiều kiểu, nhiều cách. Có khi cười thành tiếng, có khi cười thầm không thành tiếng, có khi cười mỉm, có khi chỉ gật đầu. Mỗi một tác giả có một phong cách gây cười riêng. Ở Hồ Xuân Hương thì có sự tinh nghịch, táo tơn. Xin ghi lại bài thơ đả kích Sư hổ mang phá giới; Cái kiếp tu hành nặng đá đeo Vị gì một chút tẻo tèo teo Thuyền Từ cũng muốn về Tây Trúc Trái gió cho nên phải lộn lèo Rất nhiều nhà thơ lớn không chuyên về thơ trào phúng nhưng có những bài thơ trào phúng sâu sắc như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ. Xin dẫn bài thơ vịnh cảnh “Lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu- 1897” của Tú Xương. Nhà nước ba năm mở một khoa. Trường Nam thi lẫn với trường Hà Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm ọe quan trường miệng thét loa Cờ cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra Nhân tài đất Bắc nào ai đó Nghoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà Tóm lại, so với các thể thơ khác thì thơ trào phúng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, tựa như một đốm lửa trong rừng thơ. Nhưng đốm lửa đó lại rất sáng, khiến người đọc, người nghe rất dễ cảm nhận và dễ nhớ bởi nó vừa vui, vừa trí tuệ và thiết thực. Đó là những ưu điểm và cũng là thế mạnh của thơ trào phúng. Thơ ca trào phúng dân gian ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ––––––––––––––––––––– ĐÀM THỊ ĐÀO THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG LUẬN VĂN THẠC LUẬN SĨVĂN NGÔN THẠC NGỮSĨVÀ VĂN VĂN HỌC HÓA VIỆT NAM Thái Nguyên - 2015 Thái Nguyên - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ––––––––––––––––––––– ĐÀM THỊ ĐÀO THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS. NGÔ GIA VÕ Thái Nguyên - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương” với các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, hoàn toàn là công trình nghiên cứu của tôi. . Tác giả luận văn Đàm Thị Đào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn - Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên. - Các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngô Gia Võ, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình viết luận văn. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả luận văn Đàm Thị Đào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan………………………………………………………………......i Lời cảm ơn…………………………………………………………………....ii Mục lục…………………………………………………………………….....iii MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................... 2 3. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 6 4. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 6 5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 7 6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 7 7. Cấu trúc luận văn................................................................................................ 8 8. Đóng góp của đề tài............................................................................................ 9 Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...........................................................10 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ..........................................................10 Thơ tứ tuyệt ................................................................................................10 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng .....................................................................15 Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội tạo nên hiện tượng Hồ Xuân Hương ...........18 trí Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng và trong văn học trào phúng thời trung đại ........................................................................20 Quy mô, số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ...............27 Chƣơng 2. THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG .........................................................30 Hệ thống đề tài ..............................................................................................30 Đối tượng, nội dung trào phúng ....................................................................33 Tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ ...............33 Những vấn đề xã hội ..................................................................................45 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii Mục đích, ý nghĩa trào phúng .......................................................................53 Chƣơng 3. THƠ NÔM TỨ TUYỆT TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƢƠNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ..................................................56 Ngôn ngữ trào phúng.....................................................................................56 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian .........56 Ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, tài hoa........................................................62 Nghệ thuật cái “tục” ......................................................................................67 Các ý kiến bàn về vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương .................67 Số lần xuất hiện, trường hợp xuất hiện cái tục...........................................70 Cái tục với ý nghĩa phê phán, châm biếm, đả kích cường quyền và thần quyền phong kiến .................................................................................................73 Cái tục với ý nghĩa khẳng định khát vọng tự nhiên, ca ngợi hạnh phúc trần tục, đòi tự do và giải phóng con người. ...............................................................76 KẾT LUẬN .........................................................................................................80 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học Việt Nam ra đời trong khi văn học Trung Quốc đã có một bề dày phát triển. Tuy nhiên, cha ông ta đã cố gắng vượt qua sự ràng buộc của ngôn ngữ Hán bằng cách tạo ra một văn tự mới chữ Nôm. Từ thể loại thơ Đường luật chữ Hán, ông cha ta đã vận dụng và chuyển hóa thành hình thức sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc là thơ Nôm Đường luật. Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý nằm gần hai cái nôi văn minh lớn của nhân loại Ấn Độ và Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông lại càng có ý nghĩa. Ở Việt Nam, từ thế kỷ thứ X trở về sau, nhân tài được lựa chọn qua thi cử ngày càng nhiều. Khoa thi ở các triều đại Lý, Trần, Lê… sĩ tử đều có những bài liên quan đến thơ, mà thơ Đường luật là chính. Bằng con đường như thế, thơ Đường luật xuất hiện ngày càng nhiều trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam. Từ thế kỷ XIII, chữ Nôm đã xuất hiện nhưng theo các tài liệu hiện có phải đến thế kỷ XV, trở thành ngôn ngữ văn học. Thể thơ Đường luật ở Trung Quốc thường gắn liền với những nội dung trang trọng, chính thống theo quan điểm “Thi dĩ ngôn chí” nhưng khi cha ông ta dùng chữ Nôm để sáng tác theo thể thơ này, đã đưa vào đó những vấn đề mới mẻ như nội dung trào phúng, những tình cảm đời thường, bình dị, những vấn đề dân dã của thôn quê… Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy bộ phận thơ Nôm Đường luật trào phúng đã xuất hiện từ sáng tác của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức, kéo dài cho đến hết thời kỳ trung đại, tạo thành một dòng chảy riêng biệt, có những đóng góp độc đáo cả về phương diện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật. Đây là một thể thơ góp phần quan trọng vào sự phát triển của văn học dân tộc. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về thơ tứ tuyệt trào phúng. Việc đi sâu vào tìm hiểu hiện tượng Hồ Xuân Hương với dòng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng chính là mục đích của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 Tứ tuyệt là một thể thơ được coi là “cao diệu” trong thơ Đường đồng thời cũng là mảng thơ thành công nhất của Hồ Xuân Hương. Điều thú vị là, trước Hồ Xuân Hương, rất hiếm tác giả Việt Nam dùng thể thơ tứ tuyệt để trào phúng. Hồ Xuân Hương thì ngược lại. Đây là một sự phát triển mang tính đột biến trong dòng thơ Nôm Đường luật ở nước ta. Hơn nữa, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với những giá trị độc đáo cho đến nay vẫn chưa được khảo cứu, đánh giá toàn diện, kỹ càng. Vì vậy, mảng thơ này rất xứng đáng trở thành đối tượng nghiên cứu cho những ai đã từng tâm huyết với thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nói riêng và thơ Nôm Đường luật nói chung. Hồ Xuân Hương đã từng được Xuân Diệu mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Sáng tác thơ Nôm của bà đánh dấu quá trình phát triển rực rỡ của thể loại thơ Nôm Đường luật, khẳng định một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ thơ ca dân tộc. Và điều đáng chú ý là trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, bộ phận trào phúng có vị trí độc đáo và tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nữ sĩ. Đây là một tác giả khá quen thuộc được giảng dạy trong chương trình văn học nhà trường. Do đó, tìm hiểu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng của Hồ Xuân Hương sẽ có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn đối với người giáo viên văn học. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Những vấn đề liên quan đến Hồ Xuân Hương Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp và văn bản tác phẩm Trước Cách mạng tháng Tám, Hồ Xuân Hương được khẳng định là một tác gia văn học, tác giả của nhiều bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng. Điều này được khẳng định qua những tác phẩm Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, Việt Nam văn học sử yếu và Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm, Giai nhân dị mặc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nam thi hợp tuyển của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc… Sau Cách mạng, đặc biệt là sau 1954, trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Lê Hoài Nam, Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ XIX của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 Nguyễn Lộc, Lịch sử văn học Việt Nam của nhiều tác giả, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của nhóm tác giả Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Hoàng Hữu Yên…đều khẳng định rằng có một tác giả Hồ Xuân Hương với những bài thơ Nôm tứ tuyệt. Tuy nhiên, việc chọn những bài thơ Hồ Xuân Hương vẫn chưa có sự thống nhất ở các công trình nghiên cứu. Nghiên cứu về thân thế, cuộc đời và văn bản tác phẩm Hồ Xuân Hương bắt đầu có những biến đổi, phát triển vượt bậc từ khi nhà nghiên cứu văn học Trần Thanh Mại cho đăng một loạt bài trên Tạp chí văn học như Phải chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán, Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương, Bản "Lưu Hương ký" và lai lịch phát hiện của nó,… Sau đó xuất hiện hàng loạt bài của các tác giả khác tiếp tục tranh luận, đi sâu vào vấn đề tiểu sử và văn bản tác phẩm của Hồ Xuân Hương như Tảo Trang, Nam Trân, Đào Thái Tôn,... Đặc biệt chú ý là hai công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thái Tôn là Hồ Xuân Hương – từ cội nguồn vào thế tục và Hồ Xuân Hương – tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa. Trong những bài viết của mình, Đào Thái Tôn đã tổng kết khá hệ thống tất cả những vấn đề có liên quan đến tiểu sử và văn bản thơ Hồ Xuân Hương, đã góp phần khẳng định Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán và lập luận đầy thuyết phục về tiểu sử của bà, đi tới kết luận bà là con của Hồ Sỹ Danh, em của Hồ Sỹ Đống. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, mỗi tác giả vẫn lựa chọn cho mình một quan điểm khác biệt. Giá trị nội dung tƣ tƣởng trong thơ Hồ Xuân Hƣơng Các công trình nghiên cứu đều khẳng định và đánh giá rất cao giá trị nhân văn của thơ Hồ Xuân Hương, đều tập trung làm nổi bật ý thức chống phong kiến, khát vọng đời sống tự nhiên, giá trị nhân đạo của thi phẩm Hồ Xuân Hương. Tiêu biểu cho các công trình ấy là Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục của Văn Tân, phần viết về Hồ Xuân Hương trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, Một bức thư của Chế Lan Viên, Góp thêm một tiếng nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 trong việc đánh giá thơ Hồ Xuân Hương, hay trong Văn nghệ bình dân Việt Nam của tác giả Trương Tửu… Tuy có những ý kiến đối lập nhau nhưng đều thừa nhận thơ Hồ Xuân Hương có giá trị nội dung tư tưởng đặc sắc, có sức sống lâu bền với thời gian. Giá trị nghệ thuật của thơ Hồ Xuân Hƣơng Nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Tài năng nghệ thuật của bà đã được khẳng định và đánh giá rất cao trong nền văn học dận tộc từ xưa đến nay. Tiêu biểu là các công trình Hồ Xuân Hương – tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh, đến Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm,… Càng về sau, vấn đề nghệ thuật trong thơ bà càng được nghiên cứu nhiều hơn. Trên thực tế, Lê Tâm là người đầu tiên phong cho Hồ Xuân Hương danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” trong Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm. Sau đó, bằng năng lực cảm thụ tinh tế, bằng sự hiểu biết sâu sắc văn hóa trung đại và kinh nghiệm sáng tạo thơ của mình, Xuân Diệu đã phân tích và khẳng định Hồ Xuân Hương là một trong “ba thi hào dân tộc” lớn, có vị trí xứng đáng trên thi đàn trung đại. Khi nghiên cứu giá trị nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương, một số tác giả đã đi sâu vào mối quan hệ chặt chẽ giữa thơ Hồ Xuân Hương và văn học dân gian. Tiêu biểu là bài viết của tác giả Đặng Thanh Lê Hồ Xuân Hương – bài thơ "Mời trầu", cộng đồng truyền thống và cá tính sáng tạo trong mối quan hệ văn học dân gian và văn học viết và bài viết của Nguyễn Đăng Na Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian... Trong các công trình nghiên cứu đó, Nguyễn Đăng Na đã chứng minh được rằng Hồ Xuân Hương đã “nghĩ cái nghĩ dân gian, cảm cái cảm dân gian”[28, Ở một khía cạnh khác, tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã đi sâu vào khám phá nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương như một thế giới nghệ thuật với hệ thống hình ảnh, hình tượng và những trạng thái, tính chất riêng, độc đáo nói lên một cá tính sáng tạo rất Xuân Hương trong lịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 sử thơ ca trung đại Việt Nam. Tâm lý sáng tạo của Hồ Xuân Hương cũng đã được Nguyễn Hữu Sơn tìm hiểu trong Tâm lý sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trong công trình đó, tác giả đã lý giải tư duy nghệ thuật đặc sắc của một người phụ nữ luôn ý thức về thân phận mình. Trong giới hạn nghiên cứu giá trị nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương, từ đầu thế kỉ XX đến nay, giới nghiên cứu Việt Nam ngày càng đi sâu hơn vào bản chất nghệ thuật phong phú và đặc sắc trong thơ nữ sĩ ở tất cả các phương diện như thể loại, bút pháp, thi pháp, cá tính sáng tạo, tài nghệ ngôn ngữ…. Các thành tựu nghiên cứu đó đều góp phần khẳng định nghệ thuật độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm” trong nền thơ dân tộc. Vấn đề trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hƣơng Trong các công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, chúng ta nhận thấy vấn đề trào phúng được coi là một đóng góp quan trọng của nữ sĩ vào lịch sử văn học. Thơ tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương chiếm số lượng nhiều nhất, là bộ phận có giá trị nhân đạo sâu sắc nhất trong thơ Nôm của bà. Vì vậy, hầu như tất cả các bộ lịch sử văn học đều khẳng định bà trong tư cách một nhà thơ trào phúng vào loại xuất sắc nhất của dân tộc. Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng Việt Nam là Giáo sư Đặng Thanh Lê. Trong công trình Hồ Xuân Hương và dòng thơ Nôm Đường luật, tác giả “đã đặt những sáng tác của bà trong sự phát triển của “Dòng thơ Nôm Đường luật”, phác họa một số nét cơ bản trong sự vận động của thể loại, đồng thời nêu bật những đóng góp của Hồ Xuân Hương về cảm hứng và biện pháp nghệ thuật” [22, Tác giả Nguyễn Sĩ Đại cũng đã đề cập đến Hồ Xuân Hương ở công trình Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường. Chúng tôi sẽ tiếp cận Hồ Xuân Hương với tư cách một tác gia trào phúng từ góc độ thể loại thơ Nôm Đường luật, đặc biệt là bộ phận thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng để thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của bà đối với sự phát triển của thể loại thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tập hợp những bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương và nghiên cứu đặc điểm của chúng trên hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật qua một số vấn đề như đề tài, đối tượng, nội dung, mục đích và thái độ trào phúng; bút pháp và ngôn ngữ nghệ thuật trào phúng; trong quá trình đó có so sánh thơ Hồ Xuân Hương với thơ của các nhà thơ trước. Từ đó, luận văn sẽ đi tới khẳng định vai trò của Hồ Xuân Hương trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc. Phân tích hệ thống thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ở khía cạnh nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật qua một số vấn đề như đề tài, đối tượng, nội dung, mục đích, thái độ trào phúng, bút pháp và ngôn ngữ nghệ thuật trào phúng,…Qua đó, luận văn sẽ làm sáng tỏ tài năng nghệ thuật và cá tính sáng tạo độc đáo của bà, tạo ra bước phát triển mới về chất lượng nghệ thuật trong dòng thơ Nôm Đường luật Việt Nam. Trên cơ sở tập hợp và phân tích những tác phẩm thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng của Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ góp phần khẳng định được vị thế độc đáo của Hồ Xuân Hương trong tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc. Hồ Xuân Hương là người mở đầu cho thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Việt Nam và đã đưa thể thơ này đến đỉnh cao về giá trị tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật. 4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn là thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương có rất nhiều văn bản, như Xuân Hương thi tập, XNB Xuân Lan, 1913, Hồ Xuân Hương thơ và đời của Lữ Huy Nguyên và hàng trăm các văn bản khác. Tuy nhiên, chúng tôi chọn văn bản Thơ Hồ Xuân Hương Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, H, 1982 làm văn bản nghiên cứu chính. Đây là văn bản chọn các bài thơ theo “phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương”, gồm 40 bài. Văn bản này của Nguyễn Lộc có số lượng không quá ít nhưng cũng không quá nhiều, lại là những bài thơ khá phổ biến, xuất hiện ở nhiều tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương và đã tồn tại hơn 30 năm nay, được giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 nghiên cứu văn học thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi. Tất nhiên, trong quá trình tìm hiểu, rất có thể chúng tôi vẫn phải mở rộng những liên hệ của mình ra các văn bản khác để kết quả nghiên cứu có thêm sức thuyết phục. Ngoài ra có sự so sánh với một số văn bản khác như Xuân Hương thi tập, NXB Xuân Lan, 1913; Quốc văn tùng ký của Hải Châu Tử Nguyễn Văn San; Hồ Xuân Hương thơ và đời của Lữ Huy Nguyên; Hồ Xuân Hương – tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn… 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Về phạm vi nghiên cứu, luận văn xác định một số khái niệm thơ tứ tuyệt, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng… là những khái niệm có vị trí quan trọng trong việc xử lý đề tài. Trong khi nghiên cứu thơ Nôm Đường luật trào phúng nói chung, thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng, cần phân biệt được hai vấn đề về mức độ trào phúng là yếu tố trào phúng và tác phẩm trào phúng. Trên cơ sở đó, người viết sẽ nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương ở khía cạnh nội dung với hệ thống đề tài; đối tượng, nội dung và mục đích, ý nghĩa trào phúng và khía cạnh nghệ thuật với ngôn ngữ trào phúng; nghệ thuật cái tục. 6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp thống kê, phân loại Phương pháp này sẽ cho người viết một cái nhìn tổng thể về số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương. Việc thống kê, phân loại này càng đầy đủ, chi tiết, khoa học, càng tạo ra những cơ sở xác thực cho các luận điểm của đề tài. Trên cơ sở thống kê, người viết xếp riêng những bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng để làm cứ liệu phân tích, đánh giá. Trong quá trình thống kê phân loại, người viết phải tham khảo, học tập ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu để việc khẳng định các bài thơ tứ tuyệt trào phúng thêm chính xác. Tuy nhiên, quan điểm về thơ tứ tuyệt trào phúng rất đa dạng nên có thể thống kê của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những sai sót. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 Đơn vị thống kê sẽ là những bài thơ có yếu tố trào phúng, người viết sẽ chỉ ra những câu thơ trào phúng để tiện theo dõi và đánh giá. Còn cả bài thơ được viết với mục đích trào phúng, xây dựng được một hình tượng trào phúng hoàn chỉnh thì đương nhiên có mặt trong bản thống kê, phân loại của chúng tôi. Thống kê, phân loại những bài thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương theo tiêu chí và nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu có cơ sở dữ liệu về văn bản, tránh những khái quát mang tính võ đoán, suy biện. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp Đánh giá khảo sát toàn bộ những tư liệu thống kê, phân tích các dẫn chứng, rút ra những kết luận khoa học về thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng. Với việc phân tích này, người viết tiến hành đồng thời cả hai phương diện phân tích đặc điểm nội dung tư tưởng và phân tích hình thức nghệ thuật của bài thơ, câu thơ. Sau khi phân tích, chỉ ra những đặc điểm của từng tác giả, luận văn sẽ tổng hợp và đánh giá khái quát vấn đề, rút ra những luận điểm khoa học chính. Phƣơng pháp so sánh đối chiếu Luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu trên các phương diện sau + So sánh thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với thơ Nôm Đường luật trữ tình của bà. + So sánh phong cách nghệ thuật, đóng góp về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương với các tác giả khác, đặc biệt là các tác giả trước đó như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm. + So sánh đặc trưng thể loại thơ Hồ Xuân Hương với các yếu tố và thể loại trào phúng trong văn học dân gian. 7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương Chương 1 Những vấn đề chung. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội tạo nên hiện tượng Hồ Xuân Hương Vị trí Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng và trong văn học trào phúng thời trung đại Quy mô, số lượng thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương Chương 2 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nhìn từ phương diện nội dung. Hệ thống đề tài Đối tượng, nội dung trào phúng Mục đích, ý nghĩa trào phúng Chương 3 Thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương nhìn từ phương diện nghệ thuật Ngôn ngữ trào phúng Nghệ thuật cái “tục” 8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI + Đề tài được hoàn thành sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương, một mảng thơ quan trọng trong việc khẳng định cá tính sáng tạo và vị thế Hồ Xuân Hương trong tiến trình thơ ca dân tộc. + Trên cơ sở phân tích giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và giáo viên văn học phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Thơ tứ tuyệt ra đời từ bao giờ? Hiện nay vẫn có nhiều ý kiến bàn luận về vấn đề này. Có nhiều ý kiến cho rằng thơ tứ tuyệt có mầm mống từ Kinh thi ra đời cách đây năm, vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, có một số ý kiến lại cho rằng thơ tứ tuyệt xuất hiện từ thời Lục Triều 281 – 618. Tứ tuyệt không những đạt được thành tựu rực rỡ ở đời Đường mà còn có sinh mệnh lâu dài vào bậc nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc cũng như trong lịch sử văn học một số nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Ở những nước khác, tuy không có tên gọi là “tứ tuyệt” song cũng có những loại hình tương tự. Bởi vậy, việc nêu ra những đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường không chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm vẻ đẹp của một hiện tượng độc đáo của thơ ca Trung Quốc mà còn cung cấp được những nhận định, tư liệu có thể làm căn cứ so sánh, tham khảo để tìm hiểu thêm những hiện tượng cùng loại hình, để xử lý một số vấn đề của lý luận và thực tiễn của thơ ca hiện nay. “Tứ tuyệt! Tứ tuyệt là một thể thơ rất khó, phải tập trung, hàm súc và cần có một sáng tạo gì như là một sự bất ngờ, một uẩn khúc, trong bốn câu” [7, Do hạn chế về số chữ, nhất định thơ Nôm tứ tuyệt nói chung và thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng nói riêng không thể đi vào miêu tả chi tiết hiện thực, không thể trình bày sự việc một cách có đầu có cuối theo trình tự thời gian. Thiên về khái quát, nó là một tất yếu. Nhưng sự khái quát không thể bắt đầu từ chủ quan. Vì vậy, thơ tứ tuyệt ngoài lựa chọn loại sự vật để phản ánh còn phải chọn nét tiêu biểu nhất mang tính bản chất của sự vật đó. Hiện thực trong thơ tứ tuyệt phải bảo đảm được tính chất của một tiểu vũ trụ. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Thơ tứ tuyệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 Ở Việt Nam chúng ta, từ khi có văn học viết là đã có ngay thơ tứ tuyệt. Ban đầu, chúng ta phải sáng tác bằng chữ Hán cho nên thơ tứ tuyệt luật Đường đã xuất hiện ngay từ thế kỷ X. Khái niệm thơ tứ tuyệt vì vậy cũng đã được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam quan tâm. Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, nghĩa chữ “tứ tuyệt” ở đây gồm 4 câu cắt ra từ một bài bát cú. Có bốn cách cắt + Cắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Ví dụ XUÂN Khí trời ấm áp đượm hơi dương Thấp thoáng lâu dài vẻ ác vàng Rèm liễu líu lo oanh hót hót gió, Giậu hoa phấp phới bướm chân hương. Khuyết danh – Phỏng dịch thơ chữ Hán của bà Ngô Chi Lan + Cắt bốn câu giữa, thành ra bài thơ hai vần, bốn câu đều đối nhau. Ví dụ KHI TẦU CẬP BẾN Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt Cụm tỏa ngô đồng lá lá sương Thuyền mọn năm canh người bãi Hán Dịch dài một tiếng khách Tầm dương. Phan Thanh Giản + Cắt hai câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu đầu đối nhau, hai câu dưới không đối. Ví dụ ĐỜI NGƢỜI Người hết danh không hết Đời còn việc vẫn còn Tội gì lo tính quẫn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 Lập những cuộc con con. Khuyết danh + Cắt hai câu đầu, hai câu cuối, thành ra bài thơ ba vần, cả bốn câu không đối. Ví dụ TRỜI NÓI Cao cao muôn trượng ấy là tao Dẫu pháo thăng thiên chả tới nào Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào. Nguyễn Khuyến Giáo sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu khẳng định “Tứ nghĩa là bốn, tuyệt nghĩa là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành”. Rồi ông dẫn ra năm cách ngắt khác nhau + Ngắt bốn câu trên Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường Tay ngọc lăn đưa thoi nhật nguyệt Gót vàng dậm đạp máy âm dương. Lê Thánh Tông + Ngắt bốn câu dưới Vắt vẻo sườn non Trao Lơ thơ mấy ngọn chùa Hỏi ai là chủ đó Có bản tớ xin mua. Vô danh + Ngắt hai câu đầu, hai câu cuối Những lúc say sưa cũng muốn chừa Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa Hay ưa nên nỗi không chừa được Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa. Nguyễn Khuyến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 +Ngắt bốn câu giữa Lởm chởm gừng vài khóm Lơ thơ tỏi mấy hàng Vẻ chi là cảnh mọn Mà cũng đến tang thương. Nguyễn Gia Thiều + Ngắt câu 1+ 2 và 5 + 6 Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi Tép miệng năm ba con kiến gió Nghiến răng chuyển động bốn phương trời. Lê Thánh Tông Tác giả Trần Trọng Kim và Trần Đình Sử cũng theo quan điểm này. Giáo sư Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại cho rằng … “Như vậy, thơ Đường luật hoặc cũng gọi một cách khái quát, thơ cách luật, là thể thơ được đặt ra từ đời Đường…có ba loại ngũ ngôn, lục ngôn và thất ngôn. Thơ cách luật chia làm ba thể thể tiểu luật gọi là tuyệt cú Việt Nam gọi là tứ tuyệt,…thể luật thi gọi là bát cú…” [31, Hai ông cũng đã giải thích thêm về thơ tứ tuyệt như sau + Tuyệt có nghĩa là cắt ra từ bài bát cú. + Tuyệt cũng là cắt, là đứt, nhưng là đứt câu, dừng bút để trọn ý cho một bài, sau khi viết câu thứ tư. Bởi vì một câu chưa thành thơ; hai câu mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành một bài thơ. Theo nhà biên dịch thơ Đường, Trần Trọng Kim “Thơ tuyệt cú là lối thơ làm bốn câu hai ba vần…” [18, Theo Đào Thái Sơn trong Khái luật về thơ tứ tuyệt thì cách hiểu của các vị trên đây về thơ tứ tuyệt coi như là cơ bản được nhiều người chấp nhận nhất. Bên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 cạnh đó thì một số người lại giải thích bằng một cách hiểu khác. Theo Bùi Kỷ viết trong Quốc văn cụ thể “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiền thâm, ẩn hiển, chinh kỳ, khởi phục đủ cả cho nên gọi là tuyệt” [20, Còn nhà nghiên cứu Lạc Nam Phan Văn Nhiễm trong Tìm hiểu các thể thơ “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường”[29, Có thể nói các nhà nghiên cứu ai cũng có lý do cho cách phân tích biện giải của mình. Điều đó càng chứng tỏ sự phong phú, phức tạp và rất kỳ diệu của thơ tứ tuyệt. Nếu theo cách hiểu thứ nhất thì ta có một số cách cắt bốn câu của một bài bát cú thành một bài tứ tuyệt theo niêm luật của một bài bát cú. Nếu hiểu thơ tứ tuyệt theo cách hiểu thứ hai và mở rộng thêm thì một bài thơ không dứt khoát phải làm theo cổ tuyệt hay luật tuyệt mới gọi là Nôm tứ tuyệt, mà chỉ cần một bài thơ Nôm ngắn có bốn câu làm theo thể thơ gì cũng được, miễn hay là tứ tuyệt. Cách hiểu này không phải không có lý mà còn có sự thông thoáng, mở rộng. Một bài thơ tứ tuyệt hay phải lựa chọn được những khoảnh khắc dồn nén của đời sống tinh thần, những hiện thực của tâm trạng, những phút thăng hoa của tâm linh…Phải dồn nén biểu cảm để tính khái quát của triết lý đạt tới cao độ. Còn theo như PGS. TS Lê Lưu Oanh và Ths Định Thị Nguyệt trong Thơ tứ tuyệt trong truyền thống văn hóa phương Đông thì thơ tứ tuyệt là một thể loại kết tinh được khá nhiều nét độc đáo của những giá trị tinh thần văn hóa phương Đông. Tứ tuyệt là một chỉnh thể vi mô toàn vẹn, số 4 trong quan niệm của nhân loại là một con số hoàn thiện nhất. Quy luật đối lập âm dương, đảm bảo cân bằng âm dương qua việc phối hợp các thanh bằng – trắc, các nhịp chẵn lẻ tạo thành một cấu trúc có quy luật với những quan hệ nội tại chặt chẽ, làm một bài tứ tuyệt dù rất nhỏ nhưng đảm bảo là một cấu trúc hình thức hoàn chỉnh cân xứng, nhịp nhàng, chặt chẽ, khó phá vỡ [36, Chính vì con số 4 chứa đựng được cả vũ trụ nên bài thơ tứ tuyệt được coi là một tổng thể toàn vẹn mang tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một cái tên vô cùng đặc biệt trong làng thơ văn học Việt Nam. Không chỉ cho ra đời những bài thơ mang thương hiệu riêng của cá nhân bà mà thơ Hồ Xuân Hương còn để lại bài học vô cùng đắt giá cho thế hệ mai sau. Các tác phẩm giới thiệu trong sách giáo khoa chỉ là một phần nhỏ bé so với số lượng thơ đồ sộ của bà. THECOTH sẽ tổng hợp những bài thơ đặc sắc nhất của bà trong bài viết dưới đây. Đôi nét về tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Hồ Xuân Hương Hồ Xuân Hương được mệnh danh là "Bà chúa thơ nôm" với rất nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng. Sự nghiệp văn chương của bà rất thành công nhưng cuộc đời lại không gặp nhiều may mắn. Tuy vậy bà không bi quan mà lại lấy những nỗi đau ấy để làm động lực cho các sáng tác của mình. Chân dung nhà thơ Hồ Xuân Hương Tiểu sử Hồ Xuân Hương sinh năm 1772 mất năm 1822. Quê quán ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bà có tên thật là Hồ Phi Mai hay còn có nghĩa là Hoa mai bay trên hồ. Thuở nhỏ, Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng chăm chỉ, thông minh và làm thơ rất hay. Lớn lên, bà rất xinh đẹp, tính tình nghệ sĩ, quen biết rất rộng rãi nhưng cuộc đời và tình duyên của bà khá lận đận và gặp nhiều bất hạnh hai lần lấy chồng nhưng đề là lẽ, để đến cuối cùng vẫn sống một mình, cô độc. Sự nghiệp sáng tác Hồ Xuân Hương từng được mệnh danh là “Bà Chúa Thơ Nôm”.Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Theo giới nghiên cứu, hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ Nôm tương truyền là của Hồ Xuân Hương. Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độc đáo nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian từ đề tài, cảm hứng, đến ngôn ngữ, hình tượng. Tác phẩm của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là những bài thơ viết bằng chữ nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, thất ngôn tứ tuyệt. Một số tác phẩm thơ nôm của bà Bà Lang Khóc Chồng, Bạch Đằng Giang Tạm Biệt, Bài Ca Theo Điệu Xuân Đình Lan, Bánh Trôi Nước, Bọn Đồ Dốt, Cái Quạt, Cảnh Làm Lẽ, Cái Quạt Giấy 1, Cái Quạt Giấy 2... Thơ của Hồ Xuân Hương vừa thanh vừa tục, chủ yếu viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam, về thói hư tật xấu của nhà sư, thầy đồ thời phong kiến. Tuyển tập những bài thơ Hồ Xuân Hương hay nhất, "sống" mãi cùng thời gian Sau đây, THECOTH xin tổng hợp lại tuyển tập những bài thơ Hồ Xuân Hương hay nhất, "sống" mãi cùng thời gian. Các bạn choa sẻ nhé ! 1. Bánh trôi nước Tuyển tập thơ hay nhất của Bà chúa thơ Nôm Thân em vừa trắng, lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non. Lớn nhỏ mặc dù tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Bài thơ Bánh trôi nước đã được giới thiệu trong sách giáo khoa với 4 câu thơ rất ngắn gọn, dễ nhớ. Ý nghĩa của nó chính là nói lên thân phận của chính nhà thơ và rộng ra là thân phận của người phụ nữ ngày xưa. Họ không được quyết định số phận của mình, trôi nổi tùy thuộc vào người khác. Nhưng trên hết đó chính là tấm lòng son của họ vẫn được giữ gìn trong sáng không để bị vấy bẩn. 2. Vịnh cái quạt Một lỗ xâu xâu mới cũng vừa Duyên em dính dán tự ngàn xưa Chành ra ba góc da còn thiếu Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa Mát mặt anh hùng khi tắt gió Che đầu quân tử lúc sa mưa Nâng niu ướm hỏi người trong trướng “Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?” Thơ phồn thực phản kháng trong Hồ Xuân Hương Đã có rất nhiều ý kiến trái chiều về bà thơ Vịnh cái quạt của Xuân Hương. Đại ý của bài thơ theo tiêu đề là miêu tả cái quạt với chức năng như che nắng, che mưa và để quạt mát. Nhưng có lẽ sâu xa hơn là nhà thơ đang nói về người phụ nữ. Nhưng bằng bút pháp tài tình của mình, tác phẩm không hề có tính thô tục mà đề cao đến sự chăm chỉ tài tình của người làm ra chiếc quạt. Một sản phẩm giúp con người được mát mẻ và luôn giữ trong người như báu vật. Dù là nghĩa như thế nào thì chúng ta hãy cứ cảm nhận nó theo nghĩa đẹp nhất mà ta hiểu. 3. Lấy Chồng Chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,Chém cha cái kiếp lấy chồng chừng mười hoạ hay chăng chớ,Một tháng đôi lần có cũng đấm ăn xôi xôi lại hỏng,Cầm bằng làm mướn mướn không này ví biết dường này nhỉ,Thời trước thôi đành ở vậy xong. Bài thơ Lấy Chồng Chung tác giả nói về cảnh lấy chồng chung. Đầu thơ nói về kẻ đắp chăn kẻ lạnh lùng, chán cái cảnh chồng chung, năm ở mười thì hay chăng chớ, một tháng vài lẫn có cũng như không. Bài thơ còn viết sự cam chịu cố đấm ăn xôi nhưng lại hỏng, có bằng làm mướn mướn không công. 4. Cảnh thu Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa, Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ, Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán, Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ. *** Bầu dốc giang sơn say chấp rượu. Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ. Ơ hay, cánh cương ưa người nhỉ, Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ. Bài thơ hay trong tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương Nội dung của bài thơ là một bức tranh về mùa thu. Với những hình ảnh gần gũi thân thuộc của mùa thu như hạt mưa, sông rộng dài, cây cổ thụ. Nhưng đó là một cảnh thu tiêu sơ, trong một ngày đượm buồn mà mưa không ngừng rơi, từng giọt, từng giọt đổ xuống từ tàu lá chuối. May mắn, nhà thơ vẫn điểm vào khung cảnh ấy một màu xanh của cây cổ thụ giúp bức tranh có thêm phần hồn của nó. Bên cạnh đó là cảnh người say chếnh choáng. Dù bầu rượu đã hết, dù tửu lượng không còn nữa nhưng vẫn muốn uống thêm một chén rượu sầu. Người say có lẽ không phải vì rượu mà vì cảnh giang sơn quá đẹp, quá buồn. Tác giả bằng thủ pháp nghệ thuật của mình vẽ nên bức tranh có cảnh vật và con người hòa quyện vào nhau. 5. Đánh Đu Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,Trai co gối hạc khom khom cậtGái uốn lưng ong ngửa ngửa mảnh quần hồng bay phấp phới,Hai hàng chân ngọc duỗi song xuân đã biết xuân chăng nhổ đi rồi, lỗ bỏ không! Đánh đu’ cho thấy tính sáng tạo trong thi ca của Bà chúa thơ Nôm’. Ngôn từ nhất khí, liền mạch. Giọng thơ hồn nhiên, hóm hỉnh. Một cách nhìn sắc sảo, yêu đời. Một cách cảm rất tài hoa đầy tính nhân văn. Bài thơ Đánh đu’ làm sống lại trong lòng ta một nét đẹp lễ hội dân gian mùa xuân đáng yêu vô cùng. 6. Thơ tự tình Tiếng gà xao xác gáy trên vòm Oán hận trông ra khắp mọi chòm Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau hận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom. Thơ có rất nhiều ẩn ý Mở đầu bài thơ là không gianh bao la, tĩnh mịc được khuấy động bằng tiếng gà gáy “văng vẳng” trên bom thuyền từ xa đưa tới. Tác giả đã lấy tiếng gà để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài. Đồng thời nói lên nỗi khổ của người phụ nữ thao thức suốt canh dài để canh trường. Đó là nỗi oán hận mà Hồ Xuân Hương đã sử dụng các hình ảnh mõ thảm, chuông sầu tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn. Nỗi buồn ấy lan tỏa “khắp mọi chòm”, như kéo dài theo thời gian của những đêm dài. Nghệ thuật nhà thơ sử dụng ở đây còn là nghệ thuật đối lập “Trước nghe” đối với “sau giận”, “tiếng” hô ứng với “duyên”; “rầu rĩ” là tâm trạng đối với “mõm mòm” . Ý nghĩa của nó có nghĩa là người phụ nữ đã quá lứa lỡ thì không còn ai để ý nữa. Nhưng Hồ Xuân Hương đâu chịu thua thiệt mà vẫn mạnh mẽ khẳng định “thân này đâu đã chịu gia tom”. Dù buồn rầu, đau khổ và cảm thán về số phận của phụ nữ, cầu mong hạnh phúc và tình yêu nhưng vẫn giữ phẩm chất quý giá. 7. Tự tình 2 “Canh khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con !”. Nhiều vấn đề trong thơ Hồ Xuân Hương Trong Tự tình của Hồ Xuân HƯơng có 3 bài, bài Tự tình 1 và 2 là hai bài ấn tượng nhất. Trong Tự tình 2 tác giả cũng mở đầu không gian thời gian là đêm khuya với tiếng trống đánh điểm canh giúp xua tan đi không gian tĩnh lặng. Điểm nhấn ấn tượng nhất là từ Trơ tác giả dùng từ trơ để nói đến hình ảnh người phụ nữ chai đi, mất hết cảm giác, đau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộc đời. Thân phận người phụ nữ có được một chút tình cảm bé con con mà cũng phải chia sẻ với người khác. 8. CHÙA SÀI SƠN Khen thay con tạo khéo khôn phàmMột đố giương ra biết mấy ngàmTriền đá cỏ leo sờ rậm rạpLạch khe nước rỉ mó lam nhamMột sư đầu trọc ngồi khua mõHai tiểu lưng tròn đứng giữ amĐến nơi mới biết rằng Thánh HoáChồn chân mỏi gối hãy còn ham. Bài thơ Chùa Sài Sơn tác giả viết về chùa Sài Sơn. Đầu thơ là lời khen thay sự khôn khéo bội phần, khung cảnh tiền đá cỏ leo rậm rạp, khe nước rỉ tai lam nham, một sư đầu trọc đang khua mõ, bên cạnh hai tiêu lung tròn đứng giữ am. Cuối thơ là khi đến gần nơi mới biết rằng Thành Hóa, chồn chân mỗi gối lại còn ham. 9. Hỏi Trăng Một trái trăng thu chín mõm mòm,Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom!Giữa in chiếc bích khuôn còn méo,Ngoài khép đôi cung cánh vẫn mặt kẻ trần đua xói móc,Ngứa gan thằng Cuội đứng lom người bẻ quế rằng ai đó,Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm. Câu 1 và 2 tác giả giới thiệu hình ảnh và màu sắc đặc biệt của vầng trăng Vầng trăng bấy giờ là một quả trăng, chín muồi lâu là một khối tròn có cây quế đỏ, đỏ phát ớn. Câu 3,4,5,6 tác giả đi miêu tả những chi tiết của vầng trăng tròn dẹt, méo, ... Hai câu cuối Ở nơi đó, có một người đẹp như Hằng Nga vẫn còn đang mong mỏi, đợi chờ . "Hỏi trăng" của Hồ Xuân Hương 10. Canh Khuya Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,Trơ cái hồng nhan mấy nước rượu hương đưa say lại tỉnh,Vầng trăng bóng xế khuyết chưa ngang mặt đất rêu từng đám,Đâm toạc chân mây đá mấy nỗi xuân đi xuân lại lại,Mảnh tình son trẻ tí con con. THE COTH - Top sản phẩm bán chạy -31% Kích thướt S M L XL 2XL -31% Kích thướt S M L XL 2XL -31% Kích thướt S M L XL 2XL -31% Kích thướt S M L XL 2XL -31% Kích thướt S M L XL 2XL -31% Kích thướt S M L XL 2XL Bài thơ Canh Khuya của Hồ Xuân Hương đã cho chúng ta thấy phong cách thơ mới mẻ và độc đáo của bà. Qua bài thơ chúng ta thấu hiểu nỗi tâm tư của bà trước dòng chảy của thời gian đồng thời bộc lộ niềm lạc quan, khát khao được hạnh phúc cháy bỏng của bà. 11. Vấn nguyệt Trải mấy thu nay vẫn hãy còn, Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi? Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con? Đêm tối cớ sao soi gác tía? Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn. Năm canh lơ lửng chờ ai đó? Hay có tình riêng mấy nước non? Thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Nghệ thuật tài tình ở bài thơ Vấn nguyệt đó chính là một loạt các câu hỏi được đặt ra. Tâm trạng của một cô gái mới biết yêu, hỏi con Bạch Thổ, hỏi chị Hằng Nga, hỏi đêm tối, hỏi người có chờ đợi cô hay không. Một cảm xúc mơ hồ về tình yêu mà không chắc người đó có đáp lại hay không. 12. Đánh Cờ Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,ốt đèn lên đánh cuộc cờ rằng đấu trí mà chơi,Cấm ngoại thuỷ không ai được tướng sĩ dàn ra cho hết,ể đôi ta quyết liệt một thiếp trắng, quân chàng đen,Hai quân ấy chơi nhau đà đã mới vào chàng liền nhảy ngựa,Thiếp vội vàng vén phứa tịnh xe hà, chàng gác hai bên,Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh lừa thiếp đương khi bất ý,em tốt đầu dú dí vô cung,Thiếp đang mắc nước xe lồng,Nước pháo đã nổ đùng ra bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,Thua thì thua quyết níu lấy vui nước nước non non,Khi buồn lại giở bàn son quân ngà. Đánh Cờ là một thi phẩm hay và giàu tình cảm sâu sắc của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bà là một nhà thơ được nhiều người ngưỡng mộ, ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời. 13. Động Hương tích Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm, Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom. Người quen cõi Phật chen chân xọc, Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm. Giọt nước hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom. Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Rõ khéo trời già đến dở dom. Động Hương Tích, một thắng cảnh đẹp của đất nước Bài thơ Hồ Xuân Hương nói về địa danh Động Hương tích của Việt Nam. Ngày nay gọi là chùa Hương, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, từ ngày 1-8-2008 sáp nhập vào địa bàn thành phố Hà Nội. Mỗi năm vào dịp mùa xuân chùa lại đón rất nhiều lượt du khách bốn phương về trẩy hội. Trong dòng người tấp nập ấy nhờ thơ đã miêu tả lại khung cảnh ấy nhưng với cảnh chen lấn chân xọc, mắt dòm của quá nhiều người. 14. Lỡm Học Trò Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa. Bài thơ Lỡm Học Trò tác giả viết dạy học trò làm thơ. Đầu thơ hỏi đi đâu thế cái lũ ngẩn ngơ, lại đây chị dạy cho lối làm thơ, bài thơ mượn hình ảnh con ong non ngừa lợi châm hoa rữa, con dê bé ngứa sừng húc giậu thưa. 15. ĐỀ NHỊ MĨ NHÂN ĐỒ Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mìnhChị cũng xinh mà em cũng xinhTrăm vẻ như in tờ giấy trắngNgàn năm còn mãi cái xuân xanhPhiếu mai chăng dám đường kia nọBồ liễu thôi đành phận mỏng manhCó một thú vui sao chẳng vẽTrách người thợ ấy khéo vô tình Bài thơ Đề Nhị Mỹ Nhân Đồ tác giả viết về hai chị em xinh xắn. Đầu thơ hỏi hỡi cô mình bao tuổi, chị cũng xinh mà em cũng không kém, trăm năm như tờ giấy trắng và ngàn năm còn mãi cái xuân xanh. Phiếu mai, cũng đọc là Xiếu mai, có nghĩa quả mai rụng, là tên bài “Phiếu hữu mai” trong Kinh Thi, nội dung nói cây mai đã rụng phần lớn quả, nhưng cũng vẫn còn quả trên cây, ám chỉ người con gái đã lớn tuổi song vẫn còn kịp lấy chồng. Hình ảnh Hồ Xuân Hương hiện lên trong bài thơ 16. Vịnh Quả Mít Thân em như quả mít trên cây,Da nó xù xì múi nó tử có yêu xin đóng cọc,Đừng mân mó nữa nhựa ra tay. Vịnh Quả Mít là một bài thơ của Hồ Xuân Hương được đánh giá hay đặc sắc. Nó có phần ngôn từ dân dã nhưng lại vô cùng thâm thúy về ý thơ. Và cái tục tĩu hay thanh cao cũng chính là do người nghe ra cả mà thôi. Đây là một thi phẩm được đông đảo bạn ddcj yêu thích. 17. Mời trầu Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Mời trầu chỉ có 4 câu thơ nhưng lại là nỗi niềm của người phụ nữ trăn trở về cuộc đời của mình. Miếng trầu là thể hiện truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam, mời mọi người ăn vào cho đỏ. Nó thường xuất hiện trong đám cưới với ý nghĩa chúc cho vợ chồng luôn hạnh phúc. Nhà thơ cũng khao khát một hạnh phúc như vây. Miếng trầu cô mới quyệt xong còn tươi lắm, mời mọi người hãy ăn nhanh khi nó còn tươi, để tình thắm lại chứ đừng xanh như lá, bạc như vôi. Nhưng nhà thơ cũng khẳng định chỉ có duyên thì mới thắm lại được, chứ vô duyên thì gặp nhau mãi cũng chỉ là vô duyên mà thôi. Mời trầu - một trong những bài thơ nổi tiếng của Hồ Xuân Hương 18. Họa Nhân Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu,Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,Sương pha khói biếc rộn thêm thơ trước viện, nhà khoe gió,Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,Trêu nhau chi những sợi cơ cầu. Theo TS. Phạm Trọng Chánh, bài thơ này được Hồ Xuân Hương viết khi bị mẹ cậy người mai mối gả cho thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nhân có người về Hà Tĩnh. Hồ Xuân Hương gửi bài thơ này. Cũng theo ông, thì bài “Ký mộng” của Nguyễn Du là để đáp lại bài thơ này. 19. Đá Ông Bà Chồng Khéo khéo bày trò tạo hoá côngÔng Chồng đã vậy lại Bà ChồngTầng trên tuyết điểm phơ đầu bạcThớt dưới sương pha đượm má hồngGan nghĩa dãi ra cùng chị NguyệtKhối tình cọ mãi với non sôngĐá kia còn biết xuân già giặnChả trách người ta lúc trẻ trung. Qua bài thơ nữ sĩ hiện lên chẳng những là nữ sĩ tạo hình mà còn tạo tình nữa vừa kỳ công và cũng vừa tuyệt thú. Bà chúa thơ Nôm đã biến cảm xúc mùa xuân, cái tưởng chừng khó nắm bắt trở thành vật thể gồ ghề góc cạnh, dày dày mảng khối, tươi tắn nhiều sắc màu Tình xuân được hữu thể hóa, Có sớm ư? Thời lại có trưa... Vậy mới phơi phới, ngây ngất và hoan lạc. Xót thương thay cho những ai, vì lý do thiên tạo hoặc nhân tạo, không được thụ hưởng hạnh phúc tốt vời của đời sống thế trần, bởi Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu! Suy ngẫm trong thơ Nôm 20. Duyên Kỳ Ngộ Nghìn dặm có duyên sự cũng thành, Xin đừng lo lắng hết xuân xanh. Tấc gang tay họa thơ không dứt, Gần gụi cung dương lá vẫn lành. Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện, Trống mang dùi cắp đã phanh phanh. Tuy không thả lá trôi dòng ngự, Một tác phẩm khác của Hồ Xuân Hương cũng nói về duyên phận của người phụ nữ. Trong đại ý bài thơ là đừng nên lo lắng về tình duyên, nếu có duyên thì ắt sẽ đến. Nghìn năm duyên cũng sẽ thành. Nếu là người yêu thơ văn thì cùng nhau với bạn bè họa đàm thi ca, dù có gần gũi với nam nhân thì vẫn giữ tấm lòng trong sạch. Tác giả còn khéo léo vận dụng sự tích Vu Hựu, người đời Đường Hy Tông bắt được một chiếc lá đỏ từ dòng ngự câu trong cung trôi ra. Duyên may về sau Vu Hựu lấy Hàn Thị và nhận ra nhau qua chiếc lá đỏ. Ý miêu tả chiếc lá thắm giỏi làm mai mối. 21. CHẾ SƯ Chẳng phải Ngô chẳng phải taĐầu thì trọc lốc áo không tàOản dâng trước mặt dăm ba phẩmVãi nấp sau lưng sáu bảy bàKhi cảnh khi tiu khi chũm choẹGiọng hì giọng hỉ giọng hi haTu lâu có nhẽ lên sư cụNgất nghểu toà sen nọ đó mà. Bài thơ Chế Sư tác giả viết về thây tu lâu năm. Đầu thơ chó thấy chẳng phải Ngô cũng chẳng phải ta, áo không tà đầu lại trọc lóc, ngay trước mặt dăm ba phẩm, vãi phía sau lưng sáu bảy tà. Bài thơ còn nói về khung cảnh khi tiu khi chũm chọe, giọng thì giọng hỉ giọng hi. 22. Thương ôi phận gái Hình ảnh Xuân Hương hiện lên trong mỗi bài thơ Thương ôi phận gái cũng là chồng Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông Rồng tắm ao tù từng phận tủi Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong Xót thân hoa nở song lầm cát Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng Âu hẳn tiền nhân sao đấy tá Thôi đành một kiếp thế cho xong. Bài thơ than thân trách phận của người con gái. Đã cùng là con gái, cùng có chồng thì đừng ghét bỏ nhau làm gì mà hãy nương tựa vào nhau, giúp đỡ nhau. Người phụ nữ như hạt mưa sa, rơi vào đài cát thì được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý, chẳng may rơi vào chỗ bùn nhơ thì cũng phải chịu số phận cực khổ. Dù như thế nào thì cũng đành cam chịu số phận, chẳng thể nào chống lại được. 23. CHƠI KHÁN ĐÀI Êm ái chiều xuân tới Khán ĐàiLâng lâng chẳng bợn chút trần aiBốn mùa triêu mộ, chuông gầm sóngMột vũng tang thương, nước lộn trờiBể ái ngàn trùng khôn tát cạnNguồn ân trăm trượng dễ khơi vơiNào là cực lạc là đâu tá?Cực lạc là đây, chín rõ mười. Bài thơ Chơi Khán Đài tác giả viết về một chiều xuân chơi Khán Đài. Đầu thơ về một buổi chiều xuân êm ái chơi Khán Đài, tâm hồn chẳng bận chút trần ai, bốn mùa chiệu mộ tiếng gầm sống, sự tang thương nước với trời. Nội dung thơ còn viết về bể sở nghìn trùng tát cạn, trăm trượng nguồn âm dễ khơi vơi. 24. HANG CẮC CỚ Trời đất sinh ra đá một chòmNứt làm đôi mảnh hổng hòm homKẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻnLuồng gió thông reo vỗ phập phòmGiọt nước hữu tình rơi lõm bõmCon đường vô ngạn tối om omKhen ai đẽo đá tài xuyên tạcKhéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm Đây có thể xem là bài thơ tiêu biểu cho bản sắc thơ Hồ Xuân Hương, ở đó hội tụ nhiều nét tinh hoa trong phong cách thơ bà. Một tình yêu thiên nhiên giữ dội trong lối biểu hiện, dục tính trong tài hoa miêu tả, ỡm ờ mà khiêu khích người khác giới, lập lờ hai mặt trong nỗi khát khao tình dục ... Hang Cắc Cớ - một địa điểm du lịch đẹp 25. Ốc Nhồi Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồiĐêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi,Quân tử có thương thì bóc yếmXin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi. Thơ Hồ Xuân Hương phần lớn nói về thân phận người phụ nữ. Trong những câu thơ của bà người ta nhận thấy đặc điểm “thanh thanh tục tục” mà chỉ có bà chúa thơ Nôm mới dám sử dụng. Bà thường dùng những hình ảnh trần trụi như bánh trôi nước vừa trắng lại vừa tròn, hay bài cái quạt nhưng ẩn ý bên trong thì lại khác. Ai hiểu được nhà thơ thì mới cảm nhận được cái hay, cái mỉa mai, cái đau khổ của kiếp đàn bà. Hi vọng Thecoth đã giới thiệu cho bạn top 99 bài thơ hay nhất của nữ sĩ mà bạn yêu văn học yêu thích. Bạn hãy đọc và tìm cảm nhận những bài sâu sắc trong thơ Hồ Xuân Hương nhé. >>> Đừng bỏ lỡ TOP 100+ ÁNG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU "SỐNG" MÃI VỚI THỜI GIAN THE COTH - Top sản phẩm bán chạy Kích thướt M L XL 2XL Kích thướt M L XL 2XL Kích thướt M L XL 2XL Kích thướt M L XL 2XL Kích thướt M L XL 2XL Kích thướt M L XL 2XL

thơ trào phúng hồ xuân hương